Sáng Từ 8h đến 12h
Chiều Từ 13h30 đến 17h
Tất cả các ngày trong tuần.
Trừ thứ 2 đầu tiên hàng tháng
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, giữa muôn vàn gian khổ, hy sinh và thử thách khốc liệt, đã xuất hiện những con người ưu tú, hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Một trong những gương mặt tiêu biểu ấy là đồng chí Hà Huy Tập (1906 - 1941), Tổng Bí thư thứ ba của Đảng Cộng sản Đông Dương, một nhà lý luận sắc sảo, một nhà lãnh đạo kiên định và một chiến sĩ cộng sản trung kiên, bất khuất trước kẻ thù. Cuộc đời ngắn ngủi 35 năm của đồng chí là biểu tượng sinh động cho lý tưởng cách mạng cao đẹp, cho trí tuệ và bản lĩnh của thế hệ những người cộng sản đầu tiên ở Việt Nam.
Đồng chí Hà Huy Tập, tên khai sinh là Hà Huy Khiêm, còn gọi là Ba, sinh ngày 24 tháng 4 năm 1906 tại làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa, nay thuộc xã Cẩm Hưng, tỉnh Hà Tĩnh - một vùng đất giàu truyền thống yêu nước, hiếu học và cách mạng. Quê hương Hà Tĩnh, cùng với Nghệ An, từ lâu đã là cái nôi sản sinh nhiều sĩ phu yêu nước và các phong trào đấu tranh chống áp bức, bóc lột, tạo nên môi trường hun đúc tinh thần dân tộc và ý chí quật cường cho nhiều thế hệ.

Tổng Bí thư Hà Huy Tập (1906 - 1941)
Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, cha là Hà Huy Tương, đỗ Cử nhân Hán học nhưng không ra làm quan, chọn con đường dạy học và bốc thuốc cứu người, đồng chí Hà Huy Tập sớm được giáo dục trong không khí trọng đạo lý, trọng nhân nghĩa và yêu nước. Mẹ là bà Nguyễn Thị Lộc, một người phụ nữ tần tảo, giàu đức hy sinh, đã âm thầm nuôi dưỡng, chở che và hun đúc cho con lòng nhân ái, đức kiên nhẫn và ý thức trách nhiệm đối với gia đình, quê hương. Nhờ thông minh và ham học hỏi và ý thức rèn luyện cao, đồng chí sớm tiếp xúc với Nho học, sau đó học chữ Quốc Ngữ và tiếng Pháp.
Từ năm 1910 đến 1919, Hà Huy Tập học tập tại thị xã Hà Tĩnh, sớm bộc lộ tư chất thông minh, chăm chỉ và ý chí vượt khó. Đỗ thủ khoa, đồng chí được đặc cách vào học tại Trường Quốc học Huế, một trung tâm đào tạo trí thức lớn của cả nước thời bấy giờ. Trong suốt bốn năm học tại đây, năm nào đồng chí cũng đứng hàng đầu của lớp, nhận được nhiều phần thưởng của nhà trường, khẳng định năng lực học tập xuất sắc và tư duy độc lập.
Chính trong môi trường trí thức và phong trào yêu nước sôi động ở Huế, Hà Huy Tập đã từng bước tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ, chứng kiến nỗi thống khổ của nhân dân dưới ách thống trị của thực dân phong kiến, từ đó hình thành ý thức chính trị và khát vọng tìm con đường cứu nước mới.
Từ người thầy giáo yêu nước, đồng chí Hà Huy Tập đã trở thành chiến sĩ cách mạng. Năm 1923, sau khi tốt nghiệp, Hà Huy Tập vào dạy học tại Nha Trang. Nghề dạy học không chỉ giúp đồng chí mưu sinh mà còn trở thành phương tiện để truyền bá tư tưởng tiến bộ, khơi dậy tinh thần yêu nước trong quần chúng, nhất là thanh niên và học sinh. Đây cũng là giai đoạn đồng chí bắt đầu tham gia tích cực vào các hoạt động yêu nước, từng bước chuyển từ lòng yêu nước tự phát sang nhận thức cách mạng có tổ chức. Từ năm 1925 đến 1928, Hà Huy Tập gia nhập Hội Phục Việt, sau đổi tên thành Tân Việt Cách mạng Đảng - một tổ chức tiền thân quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí là một trong những người tham gia thành lập chi bộ Đảng đầu tiên ở Khánh Hòa, thể hiện vai trò tiên phong và năng lực tổ chức nổi bật. Trong thời gian này, đồng chí không quản ngại gian khổ, lặn lội từ Vinh (Nghệ An) đến Bà Rịa, Biên Hòa, Sài Gòn - Gia Định để tuyên truyền, vận động quần chúng, dạy chữ cho người lao động nghèo, tổ chức các hoạt động tưởng niệm nhà yêu nước Phan Châu Trinh. Chính những hoạt động đó đã khiến thực dân Pháp theo dõi, trục xuất và tìm cách đàn áp.
Trở về quê hương, rồi ra Vinh dạy học tại Trường Tiểu học Cao Xuân Dục, sau đó vào Sài Gòn tham gia phong trào bãi khóa của Trường Tiểu học tư thục An Nam học đường ở Gia Định, Hà Huy Tập ngày càng gắn bó chặt chẽ với phong trào quần chúng, thể hiện rõ bản lĩnh của một trí thức cách mạng, dấn thân vì lý tưởng giải phóng dân tộc.
Đồng chí Hà Huy Tập có những hoạt động quốc tế và đóng góp lý luận quan trọng. Từ năm 1929 đến 1935, Hà Huy Tập sang Quảng Châu (Trung Quốc), gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, sau đó được cử sang Liên Xô học tập tại Trường Đại học Phương Đông, lấy bí danh Xinhítkin. Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối với sự trưởng thành về lý luận và tư duy chiến lược của đồng chí. Tại đây, Hà Huy Tập không chỉ học tập lý luận Mác - Lênin một cách hệ thống mà còn tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng, trực tiếp góp phần chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Đồng chí đã soạn thảo nhiều văn kiện quan trọng, tiêu biểu là “Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương” và “Sơ thảo lịch sử phong trào Cộng sản ở Đông Dương” - những tác phẩm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đặt nền móng cho công tác xây dựng Đảng và tổng kết kinh nghiệm cách mạng.
Trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, Hà Huy Tập phụ trách công tác tuyên truyền, giữ chức Tổng Biên tập Tạp chí Bôn-sê-vích, chuẩn bị các văn kiện cho Đại hội Đảng lần thứ I. Đồng chí trực tiếp soạn thảo báo cáo chính trị và nhiều nghị quyết quan trọng về công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, cứu tế đỏ; xây dựng Điều lệ Đảng và Tuyên ngôn Đại hội.
Trong bối cảnh phong trào cách mạng bị khủng bố nặng nề sau cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, những đóng góp lý luận và tổ chức của Hà Huy Tập có ý nghĩa đặc biệt, giúp Đảng giữ vững phương hướng, củng cố niềm tin và chuẩn bị cho giai đoạn phục hồi, phát triển mới.
Trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Hà Huy Tập là người phục hồi và củng cố Đảng. Từ năm 1936 đến năm 1938, Hà Huy Tập trở về nước và được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10-1936 đến tháng 3-1938). Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển, đồng chí đã cùng Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, chống phát xít, chống chiến tranh. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, cao trào dân chủ 1936-1939 phát triển mạnh mẽ, buộc thực dân Pháp phải nhượng bộ một số quyền lợi dân sinh, dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Ngoài ra, việc đầu tiên và cũng là nhiệm vụ trọng tâm của đồng chí khi về nước là khôi phục hệ thống tổ chức Đảng, thống nhất các tổ chức trong cả nước, xây dựng lại bộ máy lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở. Nhờ đó, Đảng từng bước vượt qua giai đoạn khó khăn, hoạt động có hiệu quả và giữ vai trò lãnh đạo phong trào cách mạng.
Đồng chí Hà Huy Tập đã tõ rõ khí phách cách mạng và sự hy sinh anh dũng. Ngày 1 tháng 5 năm 1938, trong khi tham dự lễ kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động tại Sài Gòn, Hà Huy Tập bị bắt do bị chỉ điểm. Từ đó đến năm 1941, đồng chí bị giam giữ tại nhiều nhà lao ở Sài Gòn và Nghệ An, chịu đựng tra tấn, tù đày nhưng vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản. Tháng 8 năm 1941, thực dân Pháp xử bắn đồng chí tại Ngã tư Giếng Nước, Hóc Môn, khi đồng chí mới 35 tuổi, với cáo buộc “có trách nhiệm tinh thần” về cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ. Trước tòa án quân thù, Hà Huy Tập hiên ngang tuyên bố: “Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống tôi vẫn sẽ tiếp tục hoạt động.” Câu nói ấy đã trở thành biểu tượng cho ý chí sắt đá, cho lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng cách mạng.
Cuộc đời và sự nghiệp của Tổng Bí thư Hà Huy Tập là minh chứng sinh động cho vai trò của trí thức cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đồng chí không chỉ là một nhà lãnh đạo xuất sắc trong thực tiễn mà còn là một nhà lý luận có tầm nhìn chiến lược, biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam.
Với những đóng góp to lớn trong xây dựng Đảng, lãnh đạo phong trào cách mạng và phát triển lý luận, Hà Huy Tập xứng đáng được vinh danh là một nhà lãnh đạo tài năng, một tấm gương cộng sản kiên trung, hiến dâng trọn đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc. Tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí mãi mãi là nguồn cảm hứng, là bài học quý giá cho các thế hệ hôm nay và mai sau trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước./.