Sáng Từ 8h đến 12h
Chiều Từ 13h30 đến 17h
Tất cả các ngày trong tuần.
Trừ thứ 2 đầu tiên hàng tháng
Trong lịch sử khoa bảng và quan chế triều Nguyễn, Hoàng giáp Phạm Toản là một nhân vật tiêu biểu cho mẫu hình nho sĩ xuất thân khoa cử chính thống, trưởng thành trong môi trường giáo dục Nho học truyền thống, lập thân bằng học vấn, hiển đạt bằng tài năng và đức độ, để lại dấu ấn sâu đậm cả trên phương diện khoa danh, quan nghiệp và đạo đức làm thầy. Văn bia mộ chí khắc dựng vào mùa xuân năm Canh Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 33 (1880), là tư liệu quý giá ghi chép khá đầy đủ và hệ thống về hành trạng của ông.
Phạm Toản, tự Tác, lại có tự là Vy, hiệu Phúc Sơn, người họ Phạm, quê xã Đức Lạng, huyện Đức Thọ, nay là xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học và khoa bảng. Theo văn bia, ông là cháu của một sinh đồ họ Lê, con của người đỗ đầu huyện Lê, được triều đình truy tặng chức Thị độc Học sĩ. Gia thế ấy không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành, mà còn hun đúc ở Phạm Toản ý thức sâu sắc về đạo lý gia phong, về trách nhiệm của người sĩ tử đối với xã hội và triều đình.
Ngay từ thuở thiếu thời, Phạm Toản đã nổi tiếng thông minh, hiếu học, sớm bộc lộ tư chất hơn người. Con đường khoa cử của ông gắn với những thành tích nổi bật, hiếm thấy trong giới sĩ tử đương thời. Năm Tân Hợi, niên hiệu Tự Đức thứ 4 (1851), ông tham dự khoa thi chế. Đáng chú ý, khi ấy ông mới mang thân phận Tú tài nhưng đã trải qua sáu lần khảo xét nghiêm ngặt, đủ điều kiện ứng thí theo chế độ đặc biệt. Kết quả, ông được nhà vua ban học vị “Bác học vô tài”, đỗ Đệ nhị giáp Cát sĩ và đứng đầu bảng. Đây là minh chứng rõ ràng cho học lực xuất sắc cũng như sự đánh giá cao của triều đình đối với tài năng của ông.
Không dừng lại ở đó, trong kỳ thi Hội tiếp theo, Phạm Toản tiếp tục khẳng định vị thế của mình khi đỗ Đệ nhất giáp Thám hoa - một học vị cao quý, chỉ đứng sau Trạng nguyên và Bảng nhãn trong hệ thống khoa cử Nho học. Với thành tích ấy, ông chính thức bước vào hàng ngũ trí thức ưu tú của triều đình nhà Nguyễn, được tuyển chọn giữ những chức vụ quan trọng ngay từ buổi đầu làm quan.
Sau khi đỗ đạt, Phạm Toản được bổ nhiệm làm Trứ tác tại Tập Hiền viện - một cơ quan chuyên trách việc biên soạn, trước thuật và tham gia các công việc học thuật của triều đình. Đồng thời, ông được tham dự giảng sách tại Kinh diên và giữ chức Khởi cư chú, trực tiếp ghi chép lời nói, hành vi của vua trong sinh hoạt triều chính hằng ngày. Đây đều là những chức vụ đòi hỏi trình độ học vấn uyên thâm, văn bút chuẩn mực, cùng sự cẩn trọng, trung thực và kín đáo tuyệt đối.
Năm Tự Đức thứ 7 (1854), Phạm Toản được thăng bổ làm Đốc học Hưng Yên. Trên cương vị này, ông chịu trách nhiệm quản lý giáo dục Nho học ở địa phương, coi sóc trường học, tuyển chọn và đào tạo nhân tài cho triều đình. Hai năm sau, ông được điều chuyển làm Đốc học Nghệ An. Việc đổi bổ này không chỉ xuất phát từ nhu cầu nhân sự của triều đình mà còn thể hiện sự quan tâm của vua đối với hoàn cảnh gia đình của ông, tạo điều kiện để ông được ở gần quê nhà phụng dưỡng cha mẹ. Trong thời gian này, Phạm Toản còn được gia phong chức Thị giảng Học sĩ, khẳng định vai trò của ông như một bậc thầy mẫu mực trong giới Nho học đương thời.
Về cuối triều Tự Đức, Phạm Toản tiếp tục được tin cậy giao giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy hành chính trung ương. Ông được bổ làm Chưởng ấn Binh khoa, rồi thăng chức Hồng Lô tự khanh - cơ quan phụ trách lễ nghi, bang giao và các nghi thức trọng đại của triều đình. Song song với đó, ông còn tham gia Sử quán, đảm nhiệm công việc biên soạn quốc sử, một nhiệm vụ đòi hỏi kiến thức sâu rộng, tư duy hệ thống và tinh thần trách nhiệm cao đối với lịch sử quốc gia.

Bia ký ghi hành trạng của Hoàng giáp Phạm Toản
Không chỉ dừng ở lĩnh vực học thuật và lễ nghi, Phạm Toản còn được giao xét duyệt và xử lý các chế độ, chính sách liên quan đến Hộ bộ và Lại bộ - hai cơ quan trọng yếu về tài chính và nhân sự của triều đình. Sau đó, ông được thăng giữ chức Bố chính sứ Nam Định, trực tiếp điều hành công việc hành chính, kinh tế và dân sinh của một địa phương trọng yếu ở Bắc Thành. Trên cương vị này, ông được đánh giá là vị quan thanh liêm, mẫn cán, chú trọng ổn định đời sống nhân dân và giữ gìn kỷ cương phép nước.
Về sau, Phạm Toản được đổi bổ làm Trực Học sĩ, được giao trông coi công việc của Lễ bộ, đồng thời kiêm nhiệm chức Tả Phó Đô Ngự sử Đô sát viện. Đây là chức vụ có vai trò quan trọng trong việc giám sát, đàn hặc quan lại, bảo vệ kỷ cương và pháp độ của triều đình. Việc được giao giữ chức vụ này cho thấy triều đình đặt niềm tin lớn vào sự liêm chính, công tâm và bản lĩnh của ông.
Năm Quý Dậu, niên hiệu Tự Đức thứ 26 (1873), vì lâm bệnh, Phạm Toản xin cáo quan trở về quê nhà. Ngày mồng 5 tháng 8 năm Mậu Dần, niên hiệu Tự Đức thứ 31 (1878), ông qua đời tại gia, hưởng thọ 71 tuổi. Phu nhân của ông, họ Đoàn, húy Triền, mất ngày 26 tháng ba năm Kỷ Mão, thọ 64 tuổi. Mộ phần của ông bà được an táng vào mùa hạ năm Canh Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 33 (1880), tại gò đất tổ ở quê hương.
Văn bia kết lại bằng những lời trang trọng và giàu hình ảnh: núi Ngôi xanh thẳm, sông Đà cuồn cuộn, ví sự nghiệp khoa danh và quan nghiệp của Phạm Toản cao như núi, dài như nước. Đặc biệt, việc các học trò trong môn hạ - từ Hoàng giáp, Tiến sĩ đến Cử nhân, Phó bảng và Tú tài - cùng nhau kính cẩn lập bia cho thấy ảnh hưởng sâu rộng của ông trong giới giáo dục và Nho sĩ đương thời.
Cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng giáp Phạm Toản là tấm gương tiêu biểu của một trí thức Nho học thời Nguyễn: học vấn uyên thâm, khoa danh hiển đạt, làm quan thanh liêm, tận tụy với triều đình và hết lòng với sự nghiệp giáo dục. Dẫu thời gian trôi qua, núi sông đổi dời, nhưng tên tuổi và hành trạng của ông vẫn được lưu giữ qua văn bia, như một giá trị bền vững trong dòng chảy lịch sử và văn hóa dân tộc./.