Sáng Từ 8h đến 12h
Chiều Từ 13h30 đến 17h
Tất cả các ngày trong tuần.
Trừ thứ 2 đầu tiên hàng tháng
Phát hiện các mẫu gốm thô tại thôn Làng Chè, Sơn Kim 2.
Trong quá trình nghiên cứu lịch sử - văn hóa Hà Tĩnh, khu vực miền núi phía tây của tỉnh từ lâu được đánh giá là không gian tiềm năng, ẩn chứa nhiều tầng lớp trầm tích văn hóa phản ánh quá trình cư trú lâu dài của con người. Mới đây, một phát hiện khảo cổ học tại thôn Làng Chè, xã Sơn Kim 2 đã cung cấp thêm những tư liệu khoa học quan trọng, góp phần làm sáng tỏ bức tranh lịch sử cư trú liên tục của cư dân cổ trên vùng đất này qua hàng nghìn năm.
Thực hiện kế hoạch công tác hàng năm về nghiên cứu, khảo sát khảo cổ học trên địa bàn tỉnh, Bảo tàng Hà Tĩnh với đội ngũ các nhà khảo cổ học - bảo tàng đã tổ chức đợt khảo sát thực địa tại khu vực phía tây tỉnh Hà Tĩnh. Đây là vùng địa hình đặc trưng với núi đồi xen kẽ thung lũng, nằm dọc các tuyến sông suối đầu nguồn, hội tụ nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho con người cư trú từ sớm.

Hiện vật đá thời tiền sử phát hiện tại thôn Làng Chè, xã Sơn Kim 2.

Phát hiện Chuông đồng văn hóa Đông Sơn tại thôn Làng Chè, xã Sơn Kim

Phát hiện hiện vật đồ sắt tại thôn Làng Chè, xã Sơn Kim 2
Trong quá trình khảo sát, đoàn công tác đã tiếp nhận nguồn thông tin quan trọng do người dân xã Sơn Kim 2 cung cấp. Theo phản ánh, trong quá trình canh tác nông nghiệp và cải tạo đất tại khu vực thôn Làng Chè, dưới chân núi Đá Đón, đối diện nghĩa trang thôn, người dân đã phát hiện nhiều hiện vật cổ nằm rải rác trong tầng đất canh tác. Những hiện vật ban đầu được thu nhặt gồm chuông đồng, đục đá, rìu đá, bàn mài, vòng trang sức, bát gốm, kiếm sắt… với hình thái và chất liệu đa dạng, gợi mở khả năng tồn tại một địa điểm cư trú hoặc sinh hoạt cổ có quy mô nhất định.
Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, các nhà khoa học Bảo tàng Hà Tĩnh đã trực tiếp xuống hiện trường để tiến hành khảo sát, xác định vị trí, khoanh vùng khu vực phát hiện, đo đạc sơ bộ mặt bằng, đồng thời làm việc với chính quyền địa phương và người dân nhằm tiếp nhận các hiện vật do nhân dân tự nguyện giao nộp. Kết quả điền dã cho thấy, di vật không chỉ xuất hiện ở một điểm đơn lẻ mà phân bố khá rộng trên diện tích mặt ruộng và khu vực lân cận.
Qua khảo sát, đoàn công tác đã thu thập được nhiều loại hình di vật có giá trị nghiên cứu cao. Nổi bật là hệ thống công cụ bằng đá như rìu, chày, bàn nghiền là những hiện vật tiêu biểu của giai đoạn Hậu kỳ Đá mới, phản ánh kỹ thuật chế tác và phương thức sinh hoạt của cư dân tiền - sơ sử. Bên cạnh đó là các hiện vật bằng đồng và sắt, bao gồm vòng đồng, chuông đồng, lưỡi rìu sắt, kiếm sắt… cho thấy sự phát triển của kỹ thuật luyện kim và sự chuyển biến quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân cổ.
Đặc biệt, hệ thống di vật bằng gốm thu thập được khá phong phú, gồm gốm thô, gốm tráng men, trong đó có những mảnh bát gốm mang đặc trưng niên đại thời Trần. Đây là yếu tố có giá trị khoa học nổi bật, phản ánh dấu ấn của cư dân người Việt trong giai đoạn Đại Việt mở rộng không gian cư trú lên vùng trung du, miền núi.
|
STT |
Tên gọi |
ĐVT |
SL |
Niên đại |
Tình trạng |
|
1 |
Gốm thô |
Mảnh |
40 |
Cách ngày nay 2000 năm |
Mũn |
|
2 |
Bát gốm |
Cái |
06 |
Trần |
Sút miệng |
|
3 |
Kiếm sắt |
Cái |
02 |
Phong kiến |
Ôxy hóa |
|
4 |
Vòng đồng |
Cá` |
04 |
Cách đây 2000 |
Nguyên |
|
5 |
Lưỡi rìu sắt |
Cái |
04 |
Hán |
Ôxy hóa |
|
6 |
Chuông đồng |
Cái |
01 |
Cách ngày nay 2000 năm |
Ôxy hóa |
|
7 |
Đồ đá |
Cái |
06 |
Hậu kỳ Đá mới |
Nguyên
|
Bảng thông kê hiện vật tìm thấy ở thôn Làng Chè, xã Sơn Kim 2
Theo danh mục thống kê, các hiện vật thu thập được có niên đại trải dài từ Hậu kỳ Đá mới, từ cách ngày nay khoảng 2.000 năm đến thời Hán và thời phong kiến. Mặc dù phần lớn hiện vật đã bị phong hóa, ôxy hóa hoặc sứt mẻ, song vẫn bảo lưu được những đặc trưng cơ bản về hình thái, kỹ thuật chế tác, đủ cơ sở phục vụ nghiên cứu khoa học.
Khu vực mặt ruộng thôn Làng Chè, nơi phát hiện di vật, có diện tích khoảng 1 hecta, nằm trong một thung lũng tương đối bằng phẳng, gần nguồn nước và chân núi Đá Đón. Đây là mô hình không gian cư trú quen thuộc của cư dân cổ: gần sông suối để đảm bảo nguồn nước sinh hoạt, sản xuất; tựa lưng vào núi để tránh gió bão và khai thác tài nguyên rừng.
Đáng chú ý, xung quanh khu vực này còn ghi nhận nhiều mảnh gốm thô, gốm men ngọc và công cụ đá phân bố rải rác quanh phế tích miếu Sơn Thần, một công trình tín ngưỡng dân gian cổ của cộng đồng địa phương. Sự hiện diện của miếu Sơn Thần cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của cư dân cổ, phản ánh tín ngưỡng thờ nhiên thần, một đặc trưng phổ biến của các xã hội tiền - sơ sử ở khu vực miền núi.
Những dấu tích này cho phép bước đầu nhận định rằng thôn Làng Chè không chỉ là nơi cư trú, sản xuất mà còn là không gian sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng cư dân cổ, nơi các giá trị vật chất và tinh thần cùng tồn tại, bổ trợ lẫn nhau trong suốt chiều dài lịch sử.
Phát hiện khảo cổ học tại thôn Làng Chè có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nghiên cứu tiến trình lịch sử cư trú của con người trên vùng đất phía tây Hà Tĩnh. Trước đây, khu vực này thường được xem là vùng biên viễn, xa các trung tâm văn hóa lớn của đồng bằng. Tuy nhiên, sự hiện diện đồng thời của di vật thuộc nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau đã khẳng định đây là không gian cư trú liên tục, có sự kế thừa, giao lưu và phát triển bền bỉ của các cộng đồng cư dân bản địa qua hàng nghìn năm.
Đặc biệt, các mảnh gốm thời Trần là minh chứng sinh động cho quá trình khai phá và mở rộng lãnh thổ của người Việt trong thời kỳ Đại Việt phát triển mạnh mẽ. Điều này góp phần bổ sung tư liệu cho nghiên cứu lịch sử khu vực Hà Tĩnh, đồng thời làm phong phú thêm bức tranh lịch sử - văn hóa miền núi Hà Tĩnh trong mối quan hệ với các vùng văn hóa lân cận.
Bên cạnh những giá trị khoa học to lớn, thực tế khảo sát cũng cho thấy tình trạng rà tìm cổ vật trái phép của một bộ phận người dân trên địa bàn vẫn còn diễn ra, tiềm ẩn nguy cơ “chảy máu cổ vật” và phá hoại tầng văn hóa khảo cổ. Đây là vấn đề đáng lo ngại, bởi một khi tầng văn hóa bị xâm hại, giá trị khoa học của di tích sẽ bị mất đi vĩnh viễn.
Trước thực trạng đó, Bảo tàng Hà Tĩnh kiến nghị chính quyền địa phương cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Di sản văn hóa, nâng cao nhận thức của người dân về ý nghĩa và trách nhiệm bảo vệ di sản. Đồng thời, cần có biện pháp quản lý, giám sát chặt chẽ khu vực phát hiện di tích, kịp thời ngăn chặn các hành vi xâm hại.
Về lâu dài, các cơ quan chuyên môn cần xem xét đưa địa điểm thôn Làng Chè vào danh mục kiểm kê di tích khảo cổ học, tiến tới xây dựng phương án nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với giáo dục truyền thống lịch sử - văn hóa cho cộng đồng địa phương. Đây không chỉ là giải pháp bảo vệ di sản mà còn góp phần phát triển bền vững văn hóa - xã hội, khẳng định bản sắc và chiều sâu lịch sử của vùng đất Sơn Kim 2 nói riêng và Hà Tĩnh nói chung./.