Sáng Từ 8h đến 12h
Chiều Từ 13h30 đến 17h
Tất cả các ngày trong tuần.
Trừ thứ 2 đầu tiên hàng tháng
Trong kho tư liệu Hán Nôm tại vùng xã Bão Lăng, huyện Hương Sơn (nay là xã Hà Linh, tỉnh Hà Tĩnh), sắc phong năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771) lưu tại đền Trúc Lâm dành cho võ tướng Trần Công Thiện là một di sản quý giá, phản ánh sinh động truyền thống thượng võ, tinh thần trung quân và lòng yêu nước của người dân vùng núi Ngàn Sâu. Mặc dù chỉ là một văn bản hành chính thời Lê - Trịnh, sắc phong chứa đựng nhiều thông tin có giá trị về thân thế, chiến công và vị trí của nhân vật trong lịch sử địa phương.
Sắc phong ghi rõ Trần Công Thiện “quê xã Bão Lăng, huyện Hương Sơn”, cho thấy triều đình quy định chặt chẽ việc quản lý nhân sự và quân đội, đồng thời khẳng định nguồn gốc xuất thân của người được ban tặng. Thông tin này giúp xác định rõ vùng đất sản sinh ra nhân vật thuộc trấn Nghệ An thời Lê.
Trước khi được sắc phong, Trần Công Thiện giữ chức Đội trưởng đội Hữu Ưu binh, một vị trí quan trọng trong cơ cấu quân đội nhà Lê. Việc từ một đội trưởng địa phương được thăng lên chức Bách hộ, cấp chỉ huy khoảng 100 quân, thể hiện triều đình ghi nhận công lao thực sự của ông trên chiến trường. Chức vụ này đồng thời phản ánh con đường thăng tiến trong quân ngũ với những võ quan xuất thân từ làng xã, đóng góp trực tiếp cho chiến dịch quân sự của triều đình.
Năm 1771, xã hội Đại Việt đang trong giai đoạn biến động. Triều Lê Trung hưng tồn tại dưới sự kiểm soát của chúa Trịnh, trong khi phong trào khởi nghĩa nông dân lan rộng khắp nơi. Nghệ An - Hà Tĩnh trở thành vùng căn cứ của nhiều lực lượng nổi dậy, buộc triều đình tăng cường quân sự nhằm ổn định tình hình.
Sắc phong cho biết Trần Công Thiện “phụng sai phái, theo An Đạo thống lĩnh Đoan quận công Bùi Thế Đạt” tiến đánh trấn Ninh, tiêu diệt “sào huyệt giặc”. Việc ghi rõ danh vị chỉ huy Đoan quận công cho thấy đây là chiến dịch có quy mô lớn, được thực hiện bởi lực lượng chính quy dưới sự chỉ đạo trực tiếp của triều đình. Cụm từ “đảo tặc sào” phản ánh tính chất khốc liệt của cuộc chiến trong địa hình hiểm trở, nơi lực lượng nổi dậy trú ẩn vững chắc, gây nhiều khó khăn cho quân triều đình.
Từ đó, có thể khẳng định Trần Công Thiện là tướng lĩnh cấp trung trong chiến dịch bình định địa phương, góp phần bảo vệ trấn Ninh, đơn vị hành chính - quân sự quan trọng thời Lê. Những ghi chép súc tích trong sắc phong đã mở ra góc nhìn cụ thể hơn về hoạt động quân sự vùng Nghệ - Tĩnh trong thế kỷ XVIII.
Sắc phong xác nhận ông “lập được công trạng”, được tuân chỉ chuẩn phong chức Bách hộ và ban tặng danh hiệu “Phấn lực tướng quân”. Danh hiệu này biểu trưng cho tinh thần chiến đấu dũng cảm và lòng trung thành với triều đình, thường dành cho những võ tướng lập công trong chiến trận. Như vậy, ngoài chức vụ chính thức, ông còn được triều đình vinh danh bằng một tước hiệu danh dự.
Chức “Bách hộ hạ trật” đặt ông vào hàng ngũ chỉ huy chính quy trong cơ cấu quân đội. Từ một đội trưởng địa phương lên Bách hộ là bước tiến lớn trên con đường binh nghiệp, chứng minh năng lực và lòng trung quân của Trần Công Thiện. Đây cũng là căn cứ lịch sử quan trọng khi đánh giá vị trí của ông trong tiến trình lịch sử Hương Sơn.
Sắc phong không chỉ là chứng tích lịch sử của một nhân vật, mà còn là nguồn tư liệu gốc quan trọng nghiên cứu địa phương Hà Linh trong thế kỷ XVIII. Trong bối cảnh tư liệu thời Cảnh Hưng ít ỏi, văn bản lưu giữ tại đền Trúc Lâm chính là nguồn thông tin xác thực nhất về lịch sử quân sự, hành chính, văn hóa địa phương.
Qua nội dung sắc phong, có thể nhận thấy bốn giá trị nổi bật: Xác định chức danh quân sự thời Lê - Trịnh, phản ánh cơ cấu quân đội và vai trò của lực lượng địa phương; Xác định chính xác thời điểm sự kiện, thông qua niên hiệu, ngày tháng sắc phong; Thể hiện quan hệ trung ương và địa phương, khi triều đình phong thưởng trực tiếp cho võ tướng; Góp phần tái hiện tầng lớp võ quan xuất thân làng xã, phản ánh truyền thống văn võ ở vùng Hà Linh.
Trần Công Thiện không phải danh tướng nổi tiếng trong sử sách triều đình, nhưng ông là biểu tượng của người dân miền núi Hà Tĩnh: kiên cường, nghĩa khí và hết lòng bảo vệ quê hương. Hình ảnh ông là đại diện cho hàng nghìn võ quan địa phương thời Lê - Trịnh, những người tuy thầm lặng nhưng đóng góp nền tảng cho lịch sử dân tộc.
Dù không xuất hiện trong những trang sử rực rỡ, tên tuổi họ vẫn hiện diện trong ký ức cộng đồng, qua sắc phong, thần phả, gia phả và sự trân trọng của con cháu ngày nay. Câu chuyện về Trần Công Thiện cho thấy lịch sử không chỉ được tạo nên bởi những danh nhân lớn, mà còn bởi những con người bình dị nhưng tận trung, cống hiến hết mình cho quê hương.
Ngày nay, việc bảo tồn sắc phong Trần Công Thiện là trách nhiệm chung của cộng đồng và cơ quan văn hóa. Cần có phương pháp lưu trữ khoa học, số hóa tư liệu, nghiên cứu nội dung, đồng thời đưa di sản vào giáo dục truyền thống địa phương. Khai thác tư liệu không chỉ dừng ở đọc văn bản, mà còn nghiên cứu rộng hơn qua các tư liệu liên quan.
Sự tồn tại của sắc phong tại đền Trúc Lâm, xã Hà Linh là minh chứng cho ký ức lịch sử của vùng đất. Di sản ấy không chỉ làm sáng tỏ một nhân vật lịch sử mà còn nuôi dưỡng niềm tự hào văn hóa, tạo nền tảng cho giáo dục truyền thống và tinh thần hướng về cội nguồn.
Như vậy, sắc phong dành cho Trần Công Thiện là di sản tư liệu quý về lịch sử địa phương thời Cảnh Hưng, mở ra hướng tiếp cận sâu hơn về lịch sử quân sự, hành chính và văn hóa xã hội thời Lê - Trịnh. Nhân vật Trần Công Thiện hiện lên như biểu tượng đẹp của người con Hà Linh: trung quân, quả cảm và tận tụy bảo vệ đất nước. Việc nghiên cứu và bảo tồn tư liệu Hán Nôm là cầu nối quá khứ - hiện tại, góp phần xây dựng nền tảng văn hóa bền vững cho tương lai./

Sắc cho Trần Công Thiện quê xã Bão Lăng, huyện Hương Sơn, vốn là Đội trưởng đội Hữu Ưu binh. Bản thân theo lệnh sai phái, đi theo chỉ huy An Đạo Thống lĩnh, quan Đoan Quận công, tiến quân bình định trấn Ninh, tấn công sào huyệt giặc, có lập được công trạng. Nay đã tuân chỉ chuẩn cho được chức Bách hộ, xứng đáng làm Phấn lực tướng quân, giữ bậc Bách hộ hiệu lệnh ty tráng sỹ.
Ngày mồng 6 tháng 11, năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771).